Bị thủy đậu khi mang thai có nguy hiểm cho con không?

Bị thủy đậu khi mang thai có nguy hiểm cho con không?

Bị thủy đậu khi mang thai là một trong những triệu chứng nguy hiểm khi mang thai. Khi có bầu bị thủy đậu bà bầu có cần hết sức chú ý bởi biến chứng của bệnh có thể gây ra sinh non, dọa sảy thai, dị tật…

Nguyên nhân khiến cho bà bầu bị thủy đậu

Bệnh thủy đậu được gây ra bởi vi-rút herpes zoster (herpes zoster virus), còn được gọi là vi-rút varicella zoster (varicella zoster virus). Nó được lan truyền qua các giọt nhỏ từ cái hắt hơi hoặc ho, hoặc qua tiếp xúc với quần áo , khăn trải giường, hoặc mụn phổng rộp vỡ của người bị bệnh. Các triệu chứng xuất hiện từ 7 – 21 ngày sau khi phơi nhiễm. Bệnh dễ lây nhất từ 1 ngày trước khi ban xuất hiện cho đến 7 ngày sau khi ban xuất hiện, hoặc cho tới khi ban khô hoàn toàn và đóng thành vẩy.

Những người đã mắc bệnh thủy đậu thì sẽ có miễn dịch với bệnh suốt đời (có nghĩa là bạn sẽ không mắc bệnh này nữa). Tuy nhiên, vi-rút vẫn “ngủ đông”/tồn tại ở dạng không hoạt động trong cơ thể, và sau này nó có thể tái hoạt động để gây ra bệnh zona.


Bởi vì vi-rút thủy đậu có thể truyền từ mẹ sang thai nhi qua nhau thai và có thể gây ra dị tật bẩm sinh cho nên bác sĩ thường khuyên phụ nữ dự định có thai làm xét nghiệm máu để xác định xem họ đã có miễn dịch với bệnh hay chưa. 

Biểu hiện của bệnh thủy đậu đối với phụ nữ mang thai

Bệnh thủy đậu biểu hiện ban đầu dưới dạng phát ban đỏ rất ngứa, ban lan từ thân mình lên cổ, mặt và lan ra chân tay. Trong vòng 10 ngày, ban tiến triển từ các mụn đỏ thành các mụn (bọng) nước, các mụn nước này vỡ ra, chảy nước và đóng vẩy. Các mụn nước cũng có thể xuất hiện trong miệng, trên da đầu, xung quanh mắt, trên bộ phận sinh dục... và có thể rất ngứa.

Chu kỳ này tự lặp lại ở các vùng mới của cơ thể cho tới khi lành bệnh, sau khoảng 2 tuần, tất cả các vết loét đã lành. Bệnh rất dễ lây cho tới khi tất cả các tổn thương thủy đậu đã khô và không có tổn thương thủy đậu mới trong ngày. Thật không may, vi-rút cũng rất dễ lây trong tối thiểu 1 ngày trước khi ban bùng phát

Ở trẻ em đã được tiêm phòng một mũi/liều vắc-xin thủy đậu thì vẫn có thể mắc bệnh thủy đậu nhưng biểu hiện nhẹ hơn và ngắn hơn, kéo dài 3 – 5 ngày với tổng số chỉ có dưới 30 tổn thương thủy đậu. Các ban này có thể vẫn dễ lây cho người có hệ thống miễn dịch kém. Để phòng tránh bệnh thủy đậu, kể cả các thủy đậu thể nhẹ, thì hiện này có khuyến cáo tiêm 2 liều vắc-xin thủy đậu cho tất cả mọi người.

Biến chứng của bệnh thủy đậu cho phụ nữ mang thai

Nguy cơ cho mẹ Phụ nữ từng nhiễm bệnh thủy đậu trước khi mang thai hoặc đã được chủng ngừa bệnh thủy đậu thì miễn dịch với bệnh này, trong cơ thể đã có kháng thể chống lại bệnh. Do đó, khi mang thai, những thai phụ đã có kháng thể chống lại bệnh thủy đậu không phải lo lắng về biến chứng của bệnh đối với bản thân họ cũng như thai nhi.

Nguy cơ cho con

Đối với những thai phụ mắc bệnh thủy đậu nguyên phát khi mang thai, sự ảnh hưởng của bệnh trên thai nhi tùy vào từng giai đoạn tuổi thai:

- Trong ba tháng đầu mang thai, đặc biệt là tuần lễ thứ 8-12 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 0,4%. Biểu hiện thường gặp nhất của hội chứng thủy đậu bẩm sinh là sẹo ở da. Những bất thường khác có thể xảy ra là tật đầu nhỏ, bệnh lý võng mạc, đục thủy tinh thể, nhẹ cân, chi ngắn, chậm phát triển tâm thần. Ngoài ra, có thể gây sẩy thai hoặc thai chết lưu.
- Trong ba tháng giữa, đặc biệt là tuần 13-20 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 2%.
- Sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ, hầu như không ảnh hưởng trên thai.

Nếu người mẹ nhiễm bệnh trong vòng năm ngày trước sinh và hai ngày sau sinh, bé sơ sinh dễ bị bệnh thủy đậu lan tỏa do mẹ chưa có đủ thời gian tạo kháng thể truyền cho thai nhi trước sinh. Tỷ lệ bé sơ sinh tử vong lúc này lên đến 25-30% số trường hợp bị nhiễm. Để tránh nguy cơ lây bệnh cho con, ngay sau sinh bé cần được dùng varicella zoster immune globulin và cách ly với mẹ.

Cách xử lý khi bị thủy đậu khi mang thai

Khi mắc bệnh thủy đậu, thai phụ cần được nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu hóa, nếu sốt có thể dùng thuốc hạ sốt paracetamol. Giữ vệ sinh thân thể, tránh làm vỡ những bóng nước vì có nguy cơ bội nhiễm.

Vì nguy cơ cao do biến chứng của bệnh thủy đậu, các thai phụ chưa có kháng thể bảo vệ (chưa từng bị bệnh thủy đậu hoặc chưa được chủng ngừa trước khi mang thai) nên dùng varicella zoster immune globulin (VZIG) trong vòng 72 giờ đầu sau khi phơi nhiễm với bệnh.

Việc dùng VZIG không phòng ngừa được nhiễm trùng bào thai, hội chứng thủy đậu bẩm sinh cũng như bệnh thủy đậu sơ sinh. Như vậy, việc dùng VZIG cho thai phụ chỉ phòng ngừa biến chứng nặng ở mẹ chứ không giúp ích cho thai nhi hoặc trẻ sơ sinh.

Để dự phòng biến chứng trên con nên dùng VZIG cho bé sơ sinh.

Đối với thai phụ nhiễm bệnh thủy đậu diễn tiến nặng có nguy cơ viêm phổi, nên được tư vấn dùng Acyclovir đường tĩnh mạch để giảm nguy cơ cho cả mẹ và thai. Acyclovir có vai trò ức chế sự phát triển của virus nên ức chế sự phát triển của bệnh.

Điều trị thủy đậu cho bà bầu

Hầu hết các trường hợp bệnh thủy đậu cần rất ít hoặc không cần điều trị ngoài việc điều trị triệu chứng.

Zovirax (acyclovir), là thuốc cần kê đơn, rất hữu ích trong việc rút ngắn thời gian của các triệu chứng bệnh thủy đậu nếu được sử dụng ngay trong ngày xuất hiện triệu chứng. Hầu hết các chuyên gia đều nhất trí rằng thuốc này và những thuốc tương tự nên được sử dụng cho trẻ em mắc bệnh thủy đậu có biến chứng phổi và não. Các nhiễm trùng ít nghiêm trọng hơn, một số bác sĩ khuyến cáo sử dụng thuốc này trong khi một số bác sĩ khác thì không.

Varizig, một thuốc đã được FDA phê chuẩn, dành cho trẻ em và người lớn có hệ miễn dịch yếu, trẻ sơ sinh, phụ nữ mang thai, trẻ sinh non, trẻ em dưới 1 tuổi, và người lớn không có miễn dịch với vi-rút thủy đậu. Varizig được sử dụng tối thiểu 2 liều tiêm tĩnh mạch, tùy thuộc vào trọng lượng cơ thể của bệnh nhân, trong vòng 96 giờ sau khi phơi nhiễm.

Ngoài ra, bác sĩ có thể khuyến cáo sử dụng thuốc kháng histamin (thuốc cần kê đơn), như Benadyl hoặc Zyrtec, để làm giảm đau, ngứa, và phù nề. Thuốc kháng sinh được chỉ định cho các trường hợp nhiễm trùng da thứ phát do vi khuẩn hoặc những người bị thủy đậu có bội nhiễm phổi (viêm phổi do vi khuẩn).

Bị thủy đậu khi có bầu nên ăn gì?

Về chế độ ăn uống cho bà mẹ mang thai bị thủy đậu, ThS.BS Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng Quốc gia khuyến cáo, bà mẹ nên ăn các thực phẩm giàu vitamin và khoáng chất để tăng cường sức khỏe và miễn dịch cho trẻ. Tích cực ăn nhiều rau xanh, hoa quả vitamin C, chế độ ăn cần đa dạng và cung cấp vi chất cần thiết.

Những lúc mệt mỏi, ăn kém thì có thể ăn các món ăn nhẹ và giàu dinh dưỡng như cháo, súp, súp rau cà rốt, bí đỏ... uống thêm sữa dành cho bà bầu cũng cung cấp nhiều dinh dưỡng. Khi chị em đang mắc bệnh thì cần phải chú ý chế độ dinh dưỡng hơn nữa để em bé khỏe mạnh.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Được tạo bởi Blogger.

statistics

Recent

Comment

Subscribe

Popular

Formulir Kontak

Tên

Email *

Thông báo *

Bình luận Facebook

Bình luận Google Plus